Các loại bệnh về tai thường gặp nhất trong cuộc sống

Các loại điếc và giảm thính lực

Tai gồm có tai ngoài, tai giữa và tai trong. Tai ngoài có nhiệm vụ khuếch đại và hướng âm thanh vào màng nhĩ. Tai giữa gồm màng nhĩ và 3 xương nhỏ có nhiệm vụ truyền âm thanh từ môi trường không khí vào môi trường nước của tai trong. Tai trong có các tế bào thần kinh thính giác biến đổi sóng âm thanh cơ học thành những xung động điện thần kinh, truyền theo dây thần kinh thính giác về não. Các bệnh lý ở tai ngoài và tai giữa có thể ảnh hưởng đến cơ chế dẫn truyền âm thanh, đấy là loại điếc và giảm thính lực dẫn truyền. Các bệnh lý ở tai trong trở đi có thể ảnh hưởng đến phần thần kinh nhận cảm âm thanh, đấy là loại điếc và giảm thính lực tiếp nhận, hay còn gọi là điếc và giảm thính lực thần kinh. Ngoài ra còn có loại điếc và giảm thính lực hỗn hợp có bệnh lý ở cả hai loại trên.

các loại đau tai thường gặp

Điếc và giảm thính lực dẫn truyền nói chung có thể phẫu thuật. Đó là các phẫu thuật can thiệp vào cơ chế dẫn truyền cơ học của âm thanh ở tai ngoài hay tai giữa. Điếc và giảm thính lực tiếp nhận nói chung không thể phẫu thuật để điều trị, thuốc men cũng tác dụng hạn chế. Dẫu sao trường hợp điếc hoàn toàn cả hai tai cũng còn hy vọng ở việc cấy ốc tai. Và trong đại đa số các trường hợp, máy trợ thính có thể hữu ích.

Lão thính là gì?

Là dần dần nghe kém khi tuổi ngày một cao; khoảng 30% người hơn 65 tuổi và 50% người hơn 75 tuổi bị nghe kém. Thường họ nghe kém nhiều ở các âm cao như giọng phụ nữ hoặc trẻ con, tiếng chim kêu, chuông điện thoại; còn những âm trầm như là giọng nam, động cơ xe… thì lại nghe được. Thường bệnh nhân nghe kém cả 2 tai, bệnh đến một cách từ từ nên họ không biết là mình nghe kém.

Triệu chứng của lão thính: Âm thanh dường như không rõ, trầm đi, gây nên nghe kém và không hiểu lời nói. Người bệnh thường than phiền người khác nói líu ríu, nghe nhưng không hiểu người khác nói gì, đặc biệt là ở chỗ ồn. Bệnh nhân nghe của giọng nam giới rõ hơn giọng nữ giới, có thể kèm theo ù tai.

Nguyên nhân của lão thính: Lão thính là điếc tiếp nhận, do hư hỏng những tế bào lông ở tai trong. Rất nhiều nguyên nhân như:

  • Tiếng ồn lặp đi lặp lại lâu ngày;
  • Kém máu nuôi dưỡng tai trong do bệnh tim, cao huyết áp, bệnh mạch máu, tiểu đường;
  • Một số thuốc như sspirine và kháng sinh.
  • Do di truyền, do tuổi già…

Làm gì để có sức nghe tốt?

Những tổn thương của các tế bào lông do tiếng ồn gây nên có thể phòng ngừa được bằng cách tránh tiếng ồn. Trước hết, cần nhận thức được rằng những âm thanh cường độ lớn có thể gây tổn hại cho tai trong để tránh và làm giảm tiếng ồn hằng ngày ở nơi làm việc cũng như ở nhà. Cần thực hiện những biện pháp bảo vệ tai khi làm việc ở môi trường nhiều tiếng ồn, có thể đeo máy trợ thính. Cũng cần giảm bớt tiếng ồn trong nhà, nói chuyện khi nhìn thấy mặt nhau, nói chậm, rõ, nhưng không la lớn, khi cần lặp lại thì nói cách khác…

Khi giao tiếp với người điếc và giảm thính lực, cần làm gì?

Đây là các mẹo khi giao tiếp với người điếc và giảm thính lực, bạn có thể hướng dẫn người khác khi trong gia đình họ có người điếc và giảm thính lực:

  • Nhìn mặt người điếc và giảm thính lực khi nói chuyện để họ có thể thấy mặt của bạn.
  • Tắt máy nghe nhạc, radio, T.V khi nói chuyện.
  • Không nói khi đang nhai, không lấy tay che miệng;
  • Nói hơi lớn hơn bình thường, nhưng không được hét to; nói chậm rãi.
  • Khi lặp lại thì dùng câu đơn giản, ngắn.
  • Ở nơi đông người như nhà hàng, chọn chỗ ngồi xa đám đông và ít ồn nhất.

Vai trò của tiếng ồn trong điếc và giảm thính lực

Khoảng 10% dân số bị điếc và giảm thính lực do nhiều nguyên nhân; trong đó, tiếng ồn có thể là nguyên nhân của khoảng 50% các trường hợp.

Tiếng súng nổ, bom nổ gần tai, còi báo động gần tai có thể gây ra điếc. Tiếng ồn công nghiệp trên 85 dB tiếp xúc lâu có thể gây điếc. Trong đời sống hằng ngày với đủ loại tiếng ồn của xe cộ, máy móc, các phương tiện giải trí, ca nhạc… chúng ta cần nhận thức được rằng bất kỳ loại tiếng ồn nào cũng có thể gây ra điếc và giảm thính lực khi chúng ta tiếp xúc với chúng đủ lâu.

Có thể nào bị điếc khi nghe tiếng động lớn chỉ 1 lần? Có. Những tiếng động rất lớn như súng, bom nổ gần tai, còi báo động gần tai có thể gây điếc, mặc dầu không phải luôn luôn.

Mức ồn nào có thể gây tổn thương vĩnh viễn ở tai? Trên 85 dB. Tổn thương phụ thuộc vào độ lớn của tiếng ồn và thời gian tiếp xúc với tiếng ồn đó mỗi ngày.

Các dấu hiệu báo động? Ở nơi nào mà bạn phải hét để nói chuyện là mức tiếng ồn ở đó có thể gây tổn thương tai. Tiếng o o trong tai (ù tai) xuất hiện sau khi tiếp xúc với tiếng ồn và kéo dài hàng giờ là dấu hiệu báo động. Khi một người nói rằng nghe tiếng đàn ông rõ hơn tiếng phụ nữ là đã có giảm nghe ở các tần số cao.

Làm thế nào để bảo vệ sức nghe? Tránh tiếng ồn, nếu không tránh được thì phải có những dụng cụ bảo vệ. Ở trong môi trường nào mà nói chuyện khó nghe thì chúng ta biết rằng trong môi trường đó, tiếng ồn đã đủ lớn để có thể gây tổn thương tai. Nên ở xen kẽ nơi ồn ào và nơi yên lặng để cho tai nghỉ ngơi. Hạn chế khoảng thời gian tiếp xúc tiếng ồn. Nếu phải tiếp xúc với tiếng ồn đều đặn, cần kiểm tra thính lực đồ âm đơn ít nhất mỗi năm 1 lần.

Người bị điếc và giảm thính lực có bị cô độc?

Điếc và giảm thính lực là mất mát lớn, nhiều người bệnh có những phản ứng tiêu cực, hoang mang lo sợ. Đó là những phản ứng tự nhiên, gia đình và bạn bè khi hiểu rõ sẽ làm thuyên giảm những phản ứng tâm lý đó. Âm thanh nền trong môi trường tạo nên một cảm giác rằng mình đang sống. Khi không nghe những tiếng động này (tiếng rì rầm của xe cộ, tiếng nói chuyện, tiếng nước chảy, tiếng radio…), người ta có cảm giác chết chóc, và xuất hiện trầm cảm. Những lúc họp mặt bạn bè, các đám tiệc, người bệnh bị căng thẳng, không theo kịp những mẩu đối thoại nên dần tự rút lui khỏi những hoạt động xã hội, tự cô lập mình.

Điếc ảnh hưởng thế nào đến gia đình?

Các loại điếc và giảm thính lực gây nghe kém, đồng thời cũng gây khó khăn trong việc hiểu lời nói. Nếu người thân cứ cố gắng nói to lên và lặp đi lặp lại nhiều lần thì dễ tạo sự bực mình, căng thẳng. Sự hiểu nhầm lời nói có thể làm các thành viên khác trong gia đình không muốn nói chuyện nữa, và người điếc bị cô độc. Sự hiểu biết và hợp tác của tất cả các thành viên trong gia đình có thể thay đổi mọi việc tốt hơn:

  • Làm cho người điếc và giảm thính lực chú ý đến bạn trước khi bắt đầu nói để họ lắng nghe bạn.
  • Không nên nói từ phòng khác.
  • Làm giảm những tiếng động trong nhà (tivi, radio, vòi nước chảy).
  • Nếu cần lặp lại thì nên nói câu đơn giản và khác đi thì sẽ dễ hiểu hơn.

Thủng màng nhĩ

Màng nhĩ là một màng nằm cuối ống tai ngoài, phân chia tai ngoài và tai giữa. Màng nhĩ rung động khi có sóng âm truyền từ ống tai vào và sự rung động này được truyền vào tai trong để biến đổi thành điện thế ốc tai, theo các dây thần kinh thính giác lên não. Phần căng của màng nhĩ bao gồm lớp biểu mô, tổ chức xơ và niêm mạc. Kết cấu đó nhiều khi bị thủng vì một tác động vật lý hoặc bệnh lý.

Nguyên nhân:

  • Vật nhọn đâm vào (chấn thương trực tiếp): Thường là bất cẩn lúc lấy ráy tai, để dụng cụ đâm vào màng nhĩ.
  • Chấn thương gián tiếp (có áp lực quá mạnh tác động lên màng nhĩ). Trường hợp này xảy ra khi bị người khác tát tai quá mạnh, khi chấn thương bom mìn hay lặn quá sâu.
  • Viêm nhiễm từ vùng mũi họng theo vòi Eustache lên hòm nhĩ, gây tụ dịch, tụ mủ trong hòm nhĩ và làm thủng nhĩ từ trong ra (trường hợp viêm tai giữa).

Dấu hiệu nhận biết: Đau nhói trong tai, ù tai, chảy máu tai, chóng mặt và điếc. Nếu chỉ rách màng nhĩ đơn thuần thì điếc nhẹ, nếu tổn thương sâu đến tai trong thì điếc nặng hơn. Nếu thủng nhĩ do viêm tai giữa cấp thì trước đó sẽ có triệu chứng sốt nóng, đau nhức trong tai, ù tai, nghe kém. Khi màng nhĩ thủng, mủ thoát ra được ra ngoài ống tai thì các triệu chứng trên giảm đi. Trường hợp thủng nhĩ do viêm tai giữa thanh dịch thì triệu chứng không rõ ràng và diễn biến phức tạp hơn.

Biến chứng: Thủng màng nhĩ có nhiễm trùng lâu ngày sẽ gây viêm xương chủm và đưa đến những biến chứng nặng hơn do ổ viêm lan toả vào các vùng lân cận (viêm màng não, áp xe não, viêm xoang tĩnh mạch bên, liệt mặt…).

Điều trị: Nếu lỗ thủng màng nhĩ có đường kính dưới 3 mm và ở trung tâm thì có thể vá đơn giản bằng một mảnh giấy mỏng hoặc vỏ tỏi, mục đích là để phần màng nhĩ quanh lỗ thủng có điểm tựa để tạo sẹo bít lỗ thủng. Trường hợp thủng màng nhĩ lâu ngày bị nhiễm trùng thì phải điều trị như viêm tai giữa. Nếu nỗ thủng màng nhĩ lớn và có viêm nhiễm nhiều thì phải làm sạch hòm nhĩ, xương chủm và vá lại màng nhĩ bằng cân cơ thái dương (dùng màng cơ thái dương để vá). Các phẫu thuật này hiện được thực hiện phổ biến tại Trung tâm Tai mũi họng TP Hồ Chí Minh và tại các khoa tai mũi họng của các bệnh viện khác.

Để phòng ngừa thủng màng nhĩ, phải cảnh giác khi ngoáy những vật nhọn vào tai. Tích cực điều trị các bệnh về mũi họng vì nó có thể gây viêm tai giữa mủ và làm thủng màng nhĩ, ảnh hưởng đến sức nghe và có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm đến tính mạng.

Viêm tai giữa cấp trẻ em

Viêm tai giữa cấp ở trẻ em là một bệnh thường gặp. Tuy là bệnh cấp, nhưng dễ điều trị. Dùng thuốc đúng cách trong 10 ngày là bệnh có thể khỏi.

Triệu chứng: Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ từ 18 tháng đến 3 tuổi. Trước đó, trẻ có bị sổ mũi, nghẹt mũi, ho thoáng qua. Chính bệnh viêm mũi họng này đã đưa vi khuẩn vào tai giữa qua một đường tự nhiên, đó là vòi nhĩ. 1-2 ngày sau khi vi khuẩn đã vào, tai giữa bị viêm cấp, em bé sốt 38-39 độ C. Có em bị động kinh hoặc rối loạn tiêu hoá, nôn, trớ, tiêu chảy. Ngoài ra, tai bị nhức rất nhiều, đến nỗi em bé chỉ khóc mà thôi. Nhiều em bé quá nhỏ, không chỉ được nơi nhức, nên gia đình không biết được nguyên nhân khóc kéo dài của bé.

Ngoài hai triệu chứng trên, còn một triệu chứng nữa rất khó phát hiện ở bệnh nhân nhỏ, đó là nghe kém và tai bị viêm. Phát hiện một em bé nghe kém không phải dễ vì bé có thể nghe tai bên kia bù trừ. Nếu không điều trị hoặc điều trị không đúng cách, mủ phát triển nhiều trong tai giữa, gây thủng nhĩ, tai chảy mủ ra ngoài. Mủ màu vàng, có khi đặc, có khi lỏng, không hôi. Khi mủ ứ trong tai tuôn được ra ngoài, triệu chứng nhức và sốt giảm hẳn, trẻ nghe kém nhiều hơn, nhưng rất khó phát hiện. Tuy triệu chứng (nhức tai và sốt) có giảm nhưng màng nhĩ lại thủng, vi khuẩn từ ngoài có thể tự do vào hòm nhĩ và viêm tai giữa cấp dần chuyển thành viêm tai giữa mạn. Vài năm sau, bệnh chuyển thành viêm tai xương chũm và có thể gây biến chứng nội sọ nguy hiểm. Điều này quan trọng là nhận biết được bệnh viêm tai giữa cấp còn trong thời kỳ chưa thủng nhĩ và điều trị tích cực, bệnh sẽ khỏi hẳn.

Định bệnh viêm tai giữa cấp ở trẻ nhỏ không phải dễ. Khi em bé khóc vô cứ, chứng tỏ em bị đau nhức nhiều ở một vùng nào đó trong cơ thể. Ở trẻ nhỏ thường có hai nơi bị đau nhức nhiều, đó là đau bụng và đau tai. Trong bệnh này, nếu sờ vào bụng, em bé không khóc ré thêm thì triệu chứng đau bụng bị loại. Ta lắc nhẹ vành tai em bé, vành tai bên nào bị lắc làm cho em bé khóc ré hay khóc ngất thêm thì chứng tỏ tai bên đó bị nhức. Nhức tai có kèm theo sốt là em bé bị viêm tai giữa cấp.

Điều trị tương đối dễ một khi đã định được bệnh. Giảm sốt bằng cách cho em bé uống acetaminophen nước. Điều quan trọng là phải diệt khuẩn ở tai giữa. Thuốc thường dùng ở đây là thuốc phối hợp giữa amoxycillin và clavulanic acid (Augmentin, Ciblor…) Phải điều trị kháng sinh ít nhất 10 ngày. Bệnh có thể khỏi.

Tuy là bệnh cấp nhưng viêm tai giữa có thể phòng ngừa được. Trước nhất là phải giữ mũi họng cho sạch, năng tắm rửa, rửa tay thường xuyên, nhất là trước bữa ăn. Nên ăn nhiều chất bổ dưỡng để em bé có sức đề kháng. Mỗi khi em bé ho, sổ mũi thì phải điều trị ngay, đừng để chuyển sang viêm tai giữa cấp. Một khi phát hiện bệnh viêm tai giữa cấp, nên đi điều trị chuyên khoa ngay để có cách xử trí đúng và tránh được viêm tai giữa mạn, viêm tai xương chũm sau này.

lấy ráy tai thường xuyên

Bệnh viêm tai giữa mạn

Viêm tai giữa mạn, còn gọi là chảy mủ tai, là bệnh tương đối phổ biến ở trẻ em. Đây là một bệnh dai dẳng, mủ tai chảy khi bớt, khi không và kéo dài nhiều năm liền. Nếu để lâu không điều trị, bệnh trở thành viêm tai xương chũm, có biến chứng nguy hiểm (bệnh nhân có khả năng tử vong).

Bệnh viêm tai giữa mạn lúc nào cũng bắt đầu từ viêm tai giữa cấp. Bệnh nhân bị sốt cao, nhức tai và nghe kém. Nếu điều trị đúng cách, bệnh sẽ khỏi trong vòng vài ngày. Nếu không điều trị đúng cách, bệnh sẽ chuyển sang viêm tai giữa mạn. Tai bắt đầu chảy mủ. Mủ có thể chảy liên tục hay từng đợt. Nếu điều trị với kháng sinh, nhỏ tai, bệnh có thể khỏi trong vòng một thời gian dài, nhưng sau đó lại tái phát. N ước chảy ra ban đầu là dịch đục không hôi. Đây là thời kỳ chỉ viêm tai giữa mạn đơn thuần mà thôi. Một thời gian sau, nước chảy ra là mủ, có mùi hôi. Đây là thời kỳ viêm tai giữa đã lan dần vào trong và gây viêm tai xương chũm. Cuối cùng, nước chảy ra là mủ có mùi thối khẳm như mùi cóc chết. Đây là thời kỳ tai có chứa một khối mềm, gọi là Cholestéatome. Chính khối này to dần và gây chiến chứng chết người.

Những biến chứng do khối này gây nên thường là áp xe đại não, viêm xoang tĩnh mạch bên và viêm màng não. Giữa tình trạng bệnh thông thường và tình trạng biến chứng có giai đoạn chuyển tiếp, còn gọi là “hội chứng hồi viêm”. Lúc đầu, bệnh nhân vẫn sinh hoạt như thường, tai chảy mủ khi nhiều khi ít. Đột nhiên bệnh nhân sốt cao 38- 39 độ C, tai bệnh nhức nhiều hơn, nghe kém hơn, mủ trong tai có khi chảy ra rất nhiều, có khi bị kẹt lại không chảy ra được.

Hội chứng hồi viêm này là triệu chứng chỉ điểm, báo trước trong vòng 12 hoặc 24 giờ sau là có biến chứng nguy hiểm. Nếu can thiệp vào thời điểm này tránh được tử vong cho bệnh nhân. Trong trường hợp gia đình không biết để đưa đi điều trị sớm, biến chứng tất yếu sẽ xảy ra.

Mỗi biến chứng đều có một triệu chứng chính:

  • Trong biến chứng áp xe đại não, bệnh nhân bị động kinh toàn thân, hoặc động kinh một phần cơ thể, và yếu chi bên đối diện của tai bệnh.
  • Trong biến chứng áp xe tiểu não, bệnh nhân bị chóng mặt, đứng không vững, nhất là bệnh nhân đứng chụm chân, nhắm mắt.
  • Trong biến chứng viêm xoang tĩnh mạch bên, bệnh nhân bị rét run, sốt cao 40-41 độ C. Triệu chứng này xuất hiện nhiều lần trong ngày.
  • Trong biến chứng viêm màng não, cổ bệnh nhân bị cứng, bệnh nhân không thể nào cúi đầu xuống cho cằm chạm ngực được.

Một khi biến chứng xảy ra, nếu không điều trị kịp thời, bệnh nhân bị tử vong trong vài ngày sau đó. Người bị chảy mủ tai cần phải được chăm sóc chu đáo. Phải đi khám định kỳ để giảm sự phát triển của bệnh. Trong trường hợp dịch tai chảy ra là mủ không hôi, bệnh chưa có khả năng gây biến chứng. Tuy nhiên, phải điều trị tích cực. Trong trường hợp dịch chảy ra là mủ có thối khẳm, phải đưa bệnh nhân đến bệnh viện chụp X-quang, đánh giá tình trạng xương chũm. Bệnh nhân có thể được mổ sớm, lấy khối mềm ra và tránh được biến chứng.

Trong trường hợp hội chứng hồi viêm xuất hiện, phải đưa bệnh nhân đến bệnh viện và mổ cấp cứu. Không được chần chừ một giây phút nào. Càng kéo dài thời gian, tử vong do biến chứng càng gần kề. Tại bệnh viện, gặp trường hợp có hội chứng hồi viêm này, bệnh nhân được mổ cấp cứu để tránh biến chứng nguy hiểm.

Trong trường hợp trễ, đã xuất hiện các triệu chứng của biến chứng, phải tức tốc đưa bệnh nhân đến bệnh viện ngay để xin mổ tối cấp. Chậm trễ trong tình trạng này, bệnh nhân sẽ bị tử vong.

Bệnh viêm tai giữa mạn là bệnh thường bị coi là nhẹ. Tuy nhiên, diễn tiến bên trong phức tạp và có thể gây tử vong cho bệnh nhân.

C

Ạ’ Ạ’ . _1_ _ 41 Ạ’ _

Lấy ốc tai chữa điếc

Ốc tai điện tử thay thế ốc tai thật nên nó có một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ quá trình nghe. Ốc tai điện tử sẽ chuyển âm thanh thành tín hiệu điện, những tín hiệu này sẽ kích thích các sợi thần kinh tai trong, giúp người điếc nghe được âm thanh và lời nói. Cấy ốc tai là một thành tựu lớn của y học, giúp cho người điếc nặng và sâu có thể nghe được. Kỹ thuật này được thực hiện trên thế giới cách đây 20 năm, đến nay đã có hàng chục ngàn người được cấy và sau đấy đã nghe rất tốt. Ở Việt Nam, kỹ thuật này chỉ mới được thực hiện khoảng vài năm nay do giá tiền ốc tai điện tử khá đắt. Nếu thực hiện ở nước ngoài thì chi phí cho một lần cấy ốc tai lên đến 30.000 USD. Đó là chưa kể chi phí cho những lần khám định kỳ để kiểm tra hiệu chỉnh máy và luyện nghe nói.

Khi các tế bào lông trong tai bị hư hại hoặc mất đi một phần, tai sẽ nghe kém. Người bệnh nên chọn đeo loại máy nghe thích hợp. Khi toàn bộ tế bào lông bị mất hoặc hư hại, tai sẽ điếc; thường thì các sợi thần kinh thính giác còn nguyên, không hư hại gì nhưng lại không nhận được các tín hiệu xung điện.

Không phải trường hợp điếc nào cũng cần cấy điện ốc tai để nghe lại bình thường. Nếu dây thần kinh thính giác còn nguyên hoặc hư hại ít thì mới có thể cấy điện ốc tai. Các đối tượng có thể cấy ốc tai được là người lớn hoặc trẻ em sinh ra đã điếc hoặc điếc sau khi sinh (phải là điếc ốc tai, từng sử dụng máy nghe mà không có kết quả).

Còn người điếc sử dụng máy nghe có hiệu quả; người điếc sâu quá lâu, dây thần kinh thính giác chưa từng được kích thích; người điếc mà nguyên nhân không phải do ốc tai hoặc dây thần kinh thính giác bị hư hay không có, người không đủ sức khỏe chịu đựng cuộc phẫu thuật… không phù hợp với cấy ốc tai.

Các loại ốc tai điện tử

Có 2 loại ốc tai điện tử chính: ốc tai điện tử đơn kênh và ốc tai điện tử đa kênh. Ốc tai điện tử đơn kênh rẻ hơn, chỉ khoảng 5.000 – 6.000 USD nhưng chỉ nhận biết được âm thanh. Muốn giao tiếp, người sử dụng phải kết hợp nhìn hình miệng.

Ốc tai điện tử đa kênh đắt hơn, giá 17.000 – 25.000 USD tùy loại vì có thiết kế cực nhạy với độ trầm bổng của âm thanh, như ốc tai người thật. Người bệnh sẽ nghe được và khi giao tiếp, không cần kết hợp nhìn hình miệng của người đối diện.

Hiệu quả cấy điện ốc tai

Hiệu quả khác nhau đối với mỗi người, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian điếc, số tế bào thần kinh thính giác còn sót lại và sự nhanh nhạy của từng người. Thời gian bị điếc càng ngắn thì kết quả càng tốt; người bị điếc đột ngột được cấy ốc tai trong vòng một tháng sau điếc thì có thể nghe và giao tiếp gần như thời gian trước khi bị điếc. Trẻ điếc từ trong bụng mẹ được cấy ốc tai khoảng 2 – 3 tuổi là tốt nhất; so với những trẻ khác, các cháu có thể phát triển ngôn ngữ gần như bình thường.

tai và bệnh trẻ nhỏ

Với ốc tai điện tử đa kênh đời mới 24 điện cực, người bệnh sẽ nghe được các âm thanh hằng ngày xung quanh mình; đặc biệt là các âm thanh của giao thông như còi xe, còi báo động, nhờ đó tránh được tai nạn. Với thời gian, người được cấy ốc tai sẽ hiểu được lời nói không cần nhìn miệng, giọng nói sẽ được tự chỉnh ngày một đúng hơn và nhờ thế giao tiếp sẽ tốt hơn. Đặc biệt với hai loại ốc tai điện tử Combi 40+, người được cấy có thể nghe và hiểu trong môi trường ồn, một số người đạt hiệu quả tốt có thể nói chuyện qua điện thoại.

Viết một bình luận